Kết quả của 10 năm nghiên cứu can thiệp dinh dưỡng ở trẻ nhỏ người Đức (GINI)

Biên tập viên: A. von Berg, B. Filipiak-Pittroff, U. Kramer, B. Hoffmann, E. Link, C. Beckmann, U. Hoffmann, D. Reinhardt, A. Grubl, J. Heinrich, H.-Erich Wichmann, C. Bauer, S. Koletzko, D. Berdel Conference Proceedings & Specific Issues 2013

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ảnh hưởng lâu dài của sự can thiệp dinh dưỡng bằng sữa công thức chứa đạm thủy phân đối với các biểu hiện dị ứng ở nhóm trẻ có nguy cơ cao vẫn chưa rõ ràng. 

Mục tiêu: Chúng tôi nghiên cứu hiệu quả của sữa công thức chứa đạm thủy phân đối với các dạng dị ứng ở những trẻ tuổi học đường có thành viên trong gia đình mắc bệnh dị ứng.

Phương pháp: Chúng tôi phân tích các dữ liệu của các đối tượng tham gia một nghiên cứu thuần tập tiến cứu trong 10 năm về can thiệp dinh dưỡng ở trẻ em người Đức. Ngay sau sinh, các trẻ được chọn ngẫu nhiên rồi áp dụng phương pháp mù trong việc lựa chọn sử dụng một trong bốn loại sữa công thức thay thế sữa mẹ trong bốn tháng đầu đời: (1) sữa công thức chứa đạm whey thủy phân một phần (pHF-W); (2) sữa công thức chứa đạm whey thủy phân tích cực (eHF-W); (3) sữa công thức chứa casein thủy phân tích cực; và (4) sữa bò công thức tiêu chuẩn. Dữ liệu được thu thập từ phản hồi của bố mẹ và chẩn đoán thực thể bệnh dị ứng ở các trẻ. Mô hình hồi quy log- nhị phân được áp dụng để phân tích số liệu.

Kết quả: Nguy cơ tương đối của tỉ lệ tích lũy của bất kỳ bệnh dị ứng nào trong phân tích nhóm dự định can thiệp (n=2252 là 0,87 (95% Cl, 0,77-0,99) với nhóm pHF-W, 0,94 (95% Cl, 0,83-1,07) đối với nhóm eHF-W, và 0,83 (95% Cl, 0,72-0,95) đối với nhóm eHF-C khi so sánh với sữa bò công thức tiêu chuẩn. Con số tương ứng đối với bệnh viêm da dị ứng (AD) tuần tự là 0,82 (95% Cl,0,68-1,0), 0,91 (95% Cl, 0,76-1,10), và 0,72 (95% Cl, 0,58-0,88). Hiệu quả của nhóm can thiệp (n=988) thì mạnh hơn. Trong phân tích này tỉ lệ mắc của viêm da dị ứng ở giai đoạn 7-10 tuổi đã giảm có ý nghĩa thống kê với ở nhóm sử dụng công thức caseinthủy phân tích cực, nhưng không có hiệu quả phòng ngừa đối với hen suyễn hay viêm mũi dị ứng.

Kết luận: Tác dụng phòng ngừa đáng kể trên tỉ lệ tích lũy các bệnh dị ứng, đặc biệt là viêm da dị ứng (AD) của sữa công thức đạm whey thủy phân một phần (pHF-W) và casein thủy phân tích cực (eHF-C) không thay đổi cho đến 10 năm, trong khi sữa công thức đạm whey thủy phân tích cực (eHF-W) không cho thấy giảm đáng kể tỉ lệ mắc tích lũy. Không có đủ bằng chứng về hoạt động phòng ngừa diễn ra trong khoảng 7-10 tuổi.(J Allergy Clin Immunol 2013.)