Các ấn phẩm về dinh dưỡng

Y tế-Kinh tế và Dinh dưỡng-Thừa và Thiếu dinh dưỡng

Editor(s): J. C. Seidell and J. Spieldenner.. 73 / 1

Trong vấn đề này, nhiều bài báo cáo đã được trình bày trong một cuộc họp về vấn đề dinh dưỡng toàn cầu. Những báo cáo này đề cập đến một số vấn đề mà từ lâu đã được coi là xung khắc nhau: Thiếu và thừa dinh dưỡng. Thiếu dinh dưỡng được coi là một vấn đề liên quan đến nghèo đói mà có thể dẫn đến ăn không đủ năng lượng và/hoặc vi chất dinh dưỡng và lao động vất vả. Bệnh mạn tính không lây có liên quan với sự giàu có cũng như có liên quan đến sự tiêu thụ quá nhiều thức ăn và lối sống ít vận động. Các báo cáo về vấn đề này cho thấy rằng đây không còn là một cách phân biệt hữu ích, trong thực tế, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là ở các nước có thu nhập trung bình-thấp, mọi người có thể tiếp cận với những thực phẩm có rất nhiều năng lượng, nhưng đồng thời, cũng là những thực phẩm nghèo dinh dưỡng. Có một xu hướng ngày càng tăng ở các nước đang phát triển, nơi mà sự chuyển đổi nhân khẩu học và kinh tế xã hội áp đặt nhiều ràng buộc hơn về cách đối phó với gánh nặng kép về bệnh nhiễm trùng và không nhiễm trùng cũng như suy dinh dưỡng trong một môi trường kém, đặc trưng bởi hệ thống sức khỏe và bệnh tật. Người ta dự đoán rằng, đến năm 2020, các bệnh không lây truyền sẽ là nguyên nhân của bảy trong số mười người chết ở các nước đang phát triển. Trong số các bệnh không lây truyền, sự chú ý đặc biệt dành cho các bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và các bệnh phổi mãn tính. Gánh nặng của những bệnh này ảnh hưởng đến các nước trên toàn thế giới, nhưng với một xu hướng ngày càng tăng ở các nước đang phát triển.

Các chiến lược phòng ngừa phải được tính vào các xu hướng phát triển của các yếu tố nguy cơ liên quan tới các bệnh này. Song song đó, mặc dù chương trình tiêm chủng bại liệt và một số bệnh ở trẻ em đã thành công nhưng, các bệnh khác như bệnh AIDS, lao, sốt rét và sốt xuất huyết vẫn không được kiểm soát ở nhiều vùng trên thế giới. Ngoài ra, phòng và chống thiếu vi chất dinh dưỡng là rất quan trọng. Một cách tiếp cận cuộc sống để phòng ngừa thừa và thiếu dinh dưỡng là điều cần thiết. Điều này được chứng minh bằng báo cáo của KC và cộng sự tập trung vào đái  tháo đường thai kỳ và thai to. Nhiều bệnh không lây truyền có nguồn gốc từ trong tử cung. Chậm phát triển trong tử cung dẫn đến trẻ sơ sinh nhẹ cân khi sinh cũng như thai to (nặng cân khi sinh) có liên quan với tăng nguy cơ của béo phì, đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch ở con. Báo cáo của Seidell và Halberstadt cho thấy rằng béo phì là một vấn đề ngày càng tăng ở trẻ em trên toàn thế giới. Tương tự như vậy, báo cáo của Bailey và cs. cho thấy các vấn đề toàn cầu của thiếu hụt vi chất dinh dưỡng bắt đầu sớm trong cuộc sống gây ra những di chứng suốt đời. Thừa và thiếu dinh dưỡng cũng đều góp phần rất lớn cho gánh nặng bệnh tật toàn cầu với những hậu quả kinh tế toàn cầu nghiêm trọng. Những điều này không chỉ liên quan đến các chi phí trực tiếp kết hợp với những hậu quả y tế của suy dinh dưỡng mà còn đến các chi phí gián tiếp do giảm năng suất trên những người bị ảnh hưởng. Các báo cáo của Detzel và Wieser trong vấn đề này cho thấy rằng việc chống lại tình trạng thiếu sắt bằng việc tăng cường thực phẩm có thể được coi là mang tính hiệu quả - kinh tế.


Các bài viết liên quan

Tăng cường thực phẩm cho trẻ em Philippin thiếu sắt: Tính hiệu quả - kinh tếTính hiệu quả - kinh tế và Lợi ích

Author(s): Patrick Detzel & Simon Wieser

Thiếu sắt là một trong những rối loạn dinh dưỡng phổ biến nhất ở cả hai nước đang phát triển và nước công nghiệp hóa, tạo nên một mối quan tâm sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Thiếu máu, chủ yếu do thiếu sắt, ảnh hưởng đến một phần ba dân số thế giới và tập trung ở phụ nữ và trẻ em dưới 5  tuổi. Thiếu máu thiếu sắt có tác động sâu sắc đến sức khỏe và năng suất của con người, và những tác động của tình trạng thiếu sắt đặc biệt rõ rệt trong 1.000 ngày đầu tiên của cuộc sống .Cửa sổ thời gian quan trọng này đặt giai đoạn cho sức khỏe nhận thức và sinh lý của một cá nhân trong tương lai, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tình trạng thiếu sắt ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Đánh giá này tập trung vào việc sử dụng các thực phẩm để tăng cường vi chất như là một công cụ mang tính hiệu quả - kinh tế để giải quyết tình trạng thiếu sắt ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ ở Philippin.

Đái tháo đường thai kỳ và thai to: Bài tổng hợp nghiên cứu

Author(s): Kamana KC, S Shakya, H Zhang

Tổng quan: Thai to, được định nghĩa là khi cân nặng lúc sinh ≥ 4,000g, có thể xảy ra ở12% trẻ sơ sinh của mẹ bình thường và 15-45% trẻ sơ sinh có mẹ mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ (GDM). Tăng nguy cơ thai to trong GDM chủ yếu là do tăng đề kháng insulin của người mẹ. Trong GDM, lượng đường huyết đi qua nhau thai vào máu của thai nhi cao hơn. Kết quả là, một lượng đường dư trong bào thai được lưu trữ dưới dạng mỡ gây thai to, mà còn được gọi là “lớn so với tuổi thai". Bài viết này xem lại các nghiên cứu đã khảo sát tác động của GDM và chứng thai to cũng như các biến chứng có liên quan đến tiên lượng thai và cung cấp một đánh giá về sức khỏe bà mẹ và thai nhi.

Tóm tắt: Thai to là một tiên lượng xấu thường gặp của GDM ở trẻ sơ sinh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Đối với trẻ nhũ nhi, thai to làm tăng nguy cơ đẻ khó do kẹt vai, gãy xương đòn và tổn thương đám rối thần kinh cánh tay và tăng tỷ lệ nhập vào đơn vị chăm sóc sơ sinh tích cực. Đối với các bà mẹ, các nguy cơ có liên quan với thai to bao gồm mổ lấy con, băng huyết sau sinh và rách âm đạo. Trẻ sơ sinh của bà mẹ GDM sẽ có nguy cơ trở nên quá cân hoặc béo phì cao ở độ tuổi trẻ (tuổi vị thành niên) và có nhiều khả năng phát triển bệnh đái tháo đường týp II trong cuộc sống về sau. Bên cạnh đó, kết quả của một số nghiên cứu về việc những biến đổi ngoại di truyền của các gen khác nhau của bào thai trong tử cung của mẹ GDM có thể dẫn đến việc truyền GDM và bệnh đái tháo đường týp II xuyên thế hệ là điều đáng được quan tâm.

Dịch tễ học của sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng trên toàn cầu

Author(s): R. L. Bailey

Các vi chất dinh dưỡng là cần thiết để duy trì sự sống và chức năng sinh lý tối ưu. Thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng tồn tại và lan rộng toàn cầu, phụ nữ mang thai và con trẻ của họ dưới 5 tuổi là có nguy cơ cao nhất. Thiếu hụt sắt, iốt, folate, vitamin A và kẽm là phổ biến nhất trong tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng, và tất cả tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng thường góp phần gây tăng trưởng kém, giảm trí thông minh, tăng biến chứng chu sinh, và tăng nguy cơ bệnh suất và tử suất. Thiếu sắt là tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng thường gặp nhất trên toàn thế giới và dẫn đến thiếu máu hồng cầu nhỏ, giảm khả năng làm việc, cũng như suy giảm miễn dịch và chức năng nội tiết. Các rối loạn do thiếu iốt cũng ngày càng lanrộng và dẫn đến bệnh bướu giáp, chậm phát triển tâm thần, hoặc giảm chức năng nhận thức.  Đầy đủ kẽm là cần thiết cho chức năng miễn dịch tối ưu, và thiếu hụt kẽm liên quan với tăng tỷ lệ tiêu chảy cấp tính và nhiễm trùng đường hô hấp, nguyên nhân chính gây tử vong cho những trẻ < 5 tuổi. cung cấp axit folic ngay từ đầu thai kỳ có thể ngăn ngừa khuyết tật ống thần kinh. Axit folic cần thiết cho sự tổng hợp và sửa chữa DNA, và thiếu axit folic gây ra bệnh thiếu máu hồng cầu to. Thiếu hụt vitamin A là nguyên nhân hàng đầu gây mù trên toàn thế giới và cũng làm suy giảm chức năng miễn dịch và biệt hóa tế bào. Thiếu hụt 1 vi chất dinh dưỡng hiếm khi xảy ra; thường gặp hơn là tình trạng thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng. Những hậu quả lâu dài của tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng không chỉ được nhìn thấy ở mức độ cá nhân mà còn có những tác động có hại trên phát triển kinh tế và nguồn nhân lực ở cấp quốc gia. Có lẽ mối quan tâm lớn nhất là chu kỳ của tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng, vẫn tồn tại qua nhiều thế hệ và những hậu quả liên thế hệ của tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡngs thì chúng ta chỉ mới bắt đầu hiểu. Phòng ngừa tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng là rất quan trọng và theo truyền thống thì thành thông qua việc bổ sung, tăng cường, và qua phương pháp tiếp cận dựa vào thực phẩm bao gồm đa dạng hóa thực phẩm. Quan niệm can thiệp trong 1.000 ngày đầu tiên sau sinh đã được chấp nhận rộng rãi và rất quan trọng để phá vỡ chu kỳ suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, vẫn cần phải có một cam kết bền vững, phối hợp để mở rộng quy mô dinh dưỡng ở mức độ toàn cầu. Hiểu về dịch tễ học của là rất quan trọng,  là rất quan trọng để hiểu chiến lược can thiệp nào sẽ làm việc tốt nhất trong các điều kiện khác nhau.

Gánh nặng toàn cầu của béo phì và những thách thức trong phòng ngừa béo phì

Author(s): J. C. Seidell, J Halberstadt

Tỷ lệ hiện mắc béo phì đang gia tăng ở mức báo động trong nhiều nơi trên thế giới. Khoảng 2 tỷ người thừa cân và một phần ba trong số họ bị béo phì. Hoàn cảnh của hầu hết dân số bị ảnh hưởng, giống như những người trong các quốc gia có thu nhập cao tại Bắc Mỹ, Châu Úc và Châu Âu, đã được công bố rõ ràng. Tuy nhiên, sự gia tăng dân số béo phì trong các nước có thu nhập thấp và trung bình gần đây mà theo quan sát hiện nay ít được ghi nhận. Dựa trên các dữ liệu sẵn có về tỷ lệ hiện mắc và xu hướng bệnh lývà bằng chứng dịch tễ học về mối liên quan giữa béo phì và một loạt các điều kiện sức khỏe tâm lý xã hội và thể chất thì thật hợp lý khi mô tả béo phì như một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng mà làm suy giảm nghiêm trọng sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân và làm thiệt hại đáng kể ngân sách y tế quốc gia. Hành động liên ngành để quản lý và phòng ngừa béo phì là cấp bách để đảo ngược xu hướng hiện nay.