Erika Isolauri

Sử dụng kháng sinh sớm ở trẻ nhỏ làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột và là tiên đoán cho bệnh béo phì

M. Azad | Ngày: 11/04/2017

Làm thế nào kháng sinh gây ra những thay đổi trên hệ vi sinh đường ruột ở trẻ sơ sinh?

Thuốc kháng sinh được thiết kế để tiệu diệt vi khuẩn gây bệnh cho chúng ta. Chúng ta ngày càng ý thức rằng nó cũng giết chết những vi khuẩn khiến chúng ta khỏe mạnh - "vi khuẩn tốt". Có rất nhiều hậu quả từ việc này: Vi khuẩn đường ruột của chúng ta giúp chúng ta hấp thu năng lượng từ thực phẩm, và điều này quyết định cân nặng của trẻ. Nếu chúng ta thay đổi hệ vi sinh đường ruột, chúng ta thay đổi cách thức em bé hấp thu năng lượng từ thực phẩm, và em bé tăng cân. Chúng ta thấy rằng điều này có thể dẫn tới chứng béo phì cũng như sự phát triển của các bệnh khác khi trẻ lớn lên.

Nếu hệ vi sinh đường ruột bị sai lệch, liệu trẻ có hấp thu nhiều năng lượng từ thực phẩm hơn không?

Hai đứa trẻ ăn cùng một lượng thực phẩm có thể trích xuất các lượng năng lượng khác nhau dựa trên vi khuẩn đường ruột của chúng. Chúng ta biết rằng thuốc kháng sinh có thể thay đổi hệ vi sinh đường ruột này, vì vậy đây có thể là một cách để chúng ta thấy sự béo phì gia tăng ở trẻ nhũ nhi đã được dùng kháng sinh.

Chứng cứ cho giả thuyết này là gì?

Có rất nhiều nghiên cứu vẫn còn phải được thực hiện, nhưng chúng tôi đã thu thập nhiều bằng chứng đáng tin cậy. Có hơn một chục nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa kháng sinh và béo phì, và họ tìm thấy một nhóm trẻ nhũ nhi sử dụng kháng sinh có nhiều khả năng bị thừa cân khi chúng lớn lên và trở thành thanh thiếu niên. Có ít nghiên cứu về hệ vi sinh đường ruột, nhưng chúng tôi có bằng chứng rằng thuốc kháng sinh gây ra sự thay đổi trên hệ vi sinh đường ruột. Chúng tôi thấy một hoặc hai lần sử dụng kháng sinh sớm trong đời có thể gây ra những tác động lâu dài.

Đâu là sự khác biệt giữa những trẻ đã được điều trị kháng sinh trong 6 tháng đầu đời, so với những trẻ không sử dụng?

Nó phụ thuộc vào dân số mà bạn nghiên cứu – tỉ lệ khác nhau trên thế giới - nhưng nói chung chúng tôi thấy nguy cơ béo phì ở những trẻ sơ sinh dùng kháng sinh tăng đến 50%.

Thử nghiệm trên động vật đã giúp đỡ như thế nào trong các nghiên cứu?

Ở trẻ nhỏ, chúng tôi chỉ quan sát, nhưng chúng tôi có thể sử dụng kháng sinh trực tiếp trên động vật (thường là chuột). Chúng tôi có thể cung cấp các loại kháng sinh khác nhau, cũng như xem xét thời gian của liều, vì vậy chúng tôi có thể nghiên cứu tác dụng của kháng sinh trong thai kỳ và ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của con vật non. Chúng ta cũng có thể làm các thí nghiệm mà chúng ta đã ghép vi sinh vật từ một con vật đã nhận được kháng sinh vào một con vật không có hệ vi sinh đường ruột để xem vi khuẩn gây ra hiệu quả như thế nào.

Các thí nghiệm cho thấy điều gì?

Các thí nghiệm trên chuột cho thấy nếu bạn sử dụng kháng sinh trên một con vật nhỏ ngay sau khi chúng được sinh ra, bạn sẽ thấy sự gia tăng viêm và tăng khối lượng chất béo. Điều này đặc biệt đúng nếu bạn cho con chuột sử dụng chế độ ăn nhiều chất béo. Chúng tôi tin rằng điều này mô tả tương tự những gì đang xảy ra ở các nước phát triển, nơi chúng ta đang sử dụng nhiều kháng sinh hơn trước đây, cùng với chế độ ăn uống giàu chất béo hơn. Chúng ta cũng thấy sự đề kháng insulin và đây là một dấu hiệu sớm của bệnh đái tháo đường.

Vì vậy, thông điệp cho các bác sĩ nhi khoa là gì? Có phải chính là suy nghĩ hai lần trước khi kê toa thuốc kháng sinh cho trẻ nhũ nhi?

Chúng ta biết rằng có những tình huống mà chúng ta cần thuốc kháng sinh - chúng có thể là “thần dược cứu mạng” khi chúng thực sự cần thiết. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đến 30% đơn thuốc kháng sinh là không cần thiết, ví dụ trong trường hợp nhiễm vi rút, thuốc không giúp hồi phục bệnh. Chúng tôi biết rằng thông điệp đang lan rộng. Một nghiên cứu ở Canada vào năm 1995 cho thấy hai trong số ba trẻ sơ sinh đã nhận được thuốc kháng sinh trước khi chúng tròn một tuổi. Một nghiên cứu khác được lặp lại trong năm 2010, và tỉ lệ này đã giảm xuống một phần ba trẻ sơ sinh sử dụng kháng sinh trước khi chúng tròn một tuổi. Vì vậy, đã có một số tiến bộ nhất định trong vấn đề này.