Bài báo tin tức

Dinh dưỡng trong thai kỳ và ảnh hưởng trên sức khỏe lâu dài

Được đăng:  Thứ Năm, Tháng Mười Hai 12, 2013

- Béo phì trong khi mang thai ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài của con cái
- Sữa công thức với một hàm lượng protein phù hợp gần với sữa mẹ hơn có thể ngăn chặn sự phát triển tăng tốc của trẻ nhũ nhi và béo phì sau này đối với trẻ được sinh từ mẹ thừa cân và béo phì
- Một chế độ ăn lành mạnh trong giai đoạn đầu của cuộc sống rất có thể giúp giảm nguy cơ dị ứng và các bệnh không lây khác.

Suntec, Singapore, tháng 11 2013 - " Lập trình cho một cuộc sống khỏe mạnh: Câu chuyện của 1000 ngày đầu tiên” là trọng tâm của hội nghị chuyên đề vệ tinh do Viện Dinh dưỡng Nestlé tổ chức trong Đại hội Thế giới lần thứ 8 về Nguồn gốc Phát Triển của sức khỏe và bệnh tật (DOHaD ). DOHaD là một tổ chức quốc tế và xã hội (và tổ chức từ thiện đã đăng ký) nhằm mục đích thúc đẩy nghiên cứu nguồn gốc phát triển của sức khỏe và bệnh tật. Đại hội Thế giới lần thứ 8 theo chủ đề "Từ Khoa học đến Chính sách và Hành động” nhằm giải quyết nhận thức ngày càng tăng của các tác động của lối sống khỏe từ bà mẹ lên sức khỏe lâu dài.

Tại hội nghị chuyên đề vệ tinh của Viện Dinh dưỡng Nestlé các chuyên gia quốc tế xem xét vai trò của dinh dưỡng đối với sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Họ nhấn mạnh rằng việc thay đổi tích cực trong chế độ ăn vào, ngay cả trước khi thụ thai, có khả năng ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe của trẻ như giảm nguy cơ dị ứng hoặc béo phì. 

Béo phì trong khi mang thai ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài của con cái

"Khoảng 20% phụ nữ tại các phòng khám thai của chúng tôi bị béo phì lâm sàng", Giáo sư Lucilla Poston nhấn mạnh, người đứng đầu Bộ phận Sức khỏe của Phụ nữ tại trường Đại học King, London, Vương quốc Anh, liên quan đến dịch béo phì của mẹ đang tăng lên phù hợp với xu hướng toàn cầu. Như đã biết rõ béo phì ở bà mẹ có liên quan với bệnh đái tháo đường thai kỳ, tiền sản giật, thai chết lưu, dị tật bẩm sinh và các biến chứng ở trẻ sơ sinh.

Tuy nhiên, như Giáo sư Poston đã chỉ ra, béo phì ở phụ nữ mang thai dường như có hậu quả âm thầm hơn cho sức khỏe lâu dài của con cái. Béo phì ở bà mẹ được cho là do một hiệu ứng 'lập trình' trong tử cung và có những hậu quả chuyển hóa có liên quan đến những trẻ khi sinh có thể trọng lớn hơn sẽ có nguy cơ cao hơn trở thành người thừa cân hoặc béo phì sau này. Điều này, dẫn đến những hậu quả sức khỏe lâu dài bao gồm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và chuyển hóa ở tuổi trưởng thành. Các thử nghiệm lớn, chẳng hạn như thử nghiệm UPBEAT, đang được tiến hành điều tra làm thế nào can thiệp vào lối sống, bao gồm dinh dưỡng, có thể làm giảm những tác động tiêu cực của béo phì trong thai kỳ.1

Tránh ăn vào quá mức lượng protein trong thời thơ ấu có thể làm giảm sự tăng trưởng nhanh hơn và béo phì ở trẻ được sinh ra từ các bà mẹ thừa cân

"Rõ ràng là có một kết nối giữa tăng trưởng nhanh hơn của trẻ nhũ nhi và béo phì sau này", Giáo sư Ekhard Ziegler từ Khoa Nhi tại Đại học Iowa, Hoa Kỳ đã khẳng định, và " lượng  protein ăn vào trong thời thơ ấu có thể đóng một vai trò quyết định". Nó đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu rằng ăn vào lượng protein cao trong giai đoạn nhũ nhi làm tăng tình trạng béo phì. Giáo sư Ziegler trình bày kết quả từ một thử nghiệm can thiệp gần đây ở trẻ em sinh ra từ mẹ thừa cân và béo phì để nhấn mạnh hiệu ứng này hơn nữa. Trẻ nhũ nhi nhận được sữa công thức tiếp theo có hàm lượng protein thấp sẽ có trọng lượng và chỉ số khối cơ thể tăng thấp hơn trong thời gian can thiệp và kéo dài đến 2 tuổi, so với những trẻ dùng sữa công thức có hàm lượng protein cao hơn. Tóm lại, ông cho rằng sữa công thức tiếp theo với hàm lượng protein gần với sữa mẹ hơn có thể bảo vệ trẻ nhũ nhi có nguy cơ cao phòng bệnh béo phì trong tương lai.

Một chế độ dinh dưỡng lành mạnh trong giai đoạn đầu đời rất có thể giúp giảm nguy cơ dị ứng và các bệnh không lây khác 

Tầm quan trọng của dinh dưỡng đầu đời trong việc ngăn ngừa các bệnh mạn tính không lây NCDs, như dị ứng và bệnh tim mạch, đã được nhấn mạnh bởi Giáo sư Susan Prescott, thuộc Đại học Tây Úc ở Perth. Bà nói: "Chúng ta đang nhìn thấy một đại dịch NCDs của hầu hết các loại bệnh, ảnh hưởng đến tất cả các hệ thống cơ quan, và chúng ta biết rằng dinh dưỡng là cốt lõi của việc này". Phòng ngừa là phương pháp cuối cùng để giảm gánh nặng này, và tiềm năng lớn nhất cho điều này nằm trong cuộc sống đầu đời khi xác định được các mô hình phản ứng sinh lý, cấu trúc, miễn dịch, và chuyển hóa ảnh hưởng đến tính dễ mắc bệnh trong tương lai.

Đã có chứng cứ hiển nhiên là một "khởi đầu khỏe mạnh cho cuộc sống” có thể làm giảm nguy cơ của các bệnh mạn tính không lây NCDs ở cả hai giai đoạn đầu đời và sau này.2, 3. Điều quan trọng là có chiến lược phòng ngừa mục tiêu càng sớm càng tốt, ngay cả trước khi thụ thai, như một phần của một cách tiếp cận trong tiến trình cuộc sống để giảm nguy cơ bệnh tật ở thế hệ tiếp theo. Dị ứng là bệnh mạn tính không lây NCD với sự khởi đầu sớm nhất, bắt đầu trong vài tuần hoặc vài tháng sau sinh, và các yếu tố nguy cơ của nó là tiền viêm, bao gồm cả mô hình chế độ ăn uống hiện đại, chất gây ô nhiễm môi trường, các mẫu vi sinh vật, và sự căng thẳng. Giáo sư Prescott chỉ ra rằng: "béo phì ở bà mẹ là một trạng thái viêm mãn tính ảnh hưởng đến sự phát triển hệ miễn dịch của thai nhi", và trẻ em béo phì có liên quan với nguy cơ bị dị ứng cao hơn, đặc biệt là dị ứng thức ăn.

Cách nào tốt nhất để ngăn ngừa dị ứng thức ăn còn là chủ đề cần nghiên cứu. Nuôi con bằng sữa mẹ được khuyến khích, nhưng nếu điều này là không thể, công thức sữa đạm thủy phân có thể được chỉ định cho trẻ nhũ nhi có nguy cơ cao bị dị ứng thức ăn. Trì hoãn việc giới thiệu các chất gây dị ứng thức ăn tiềm năng sau 6 tháng tuổi có thể làm tăng nguy cơ dị ứng thức ăn hơn là ngăn ngừa chúng, và việc xác định thời gian giới thiệu các loại thức ăn trong chế độ ăn uống cho trẻ nhũ nhi là đối tượng của nghiên cứu đang phát triển liên tục.