Cuộc cách mạng về HMO - các oligosaccharide trong Sữa Mẹ.

B. German | Đăng ngày: 11/04/2017

Ông có thể chia sẻ về nghiên cứu mà ông đang tiến hành hay không?

Chúng tôi đã nghiên cứu về sữa mẹ trong nhiều thập niên, và gần đây đã phát hiện sữa mẹ có các thành phần không thể tiêu hóa được, điều này rất thú vị. Dường như, cơ thể của mẹ tổng hợp các phân tử được truyền trực tiếp đến con. Chúng tôi đã quyết định nghiên cứu chi tiết về khía cạnh này. Chúng tôi đã phát hiện rằng sữa mẹ chứa rất nhiều các đường carbohydrate oligosaccharide là các chất không thể tiêu hóa được.

Nhiều ở mức bao nhiêu?

Điều thú vị là các oligosaccharides chiếm khoảng một phần ba thành phần sữa mẹ. Thành phần oligosaccharide tương đương với thành phần đạm.

Thành phần này có được giữ ổn định trong quá trình tạo sữa hay sẽ thay đổi?

Nhìn chung là thành phần này có tính hằng định. Sữa non colostrum có nồng độ các chất này cao hơn, nhưng sau đó thì duy trì ở mức hằng định.

Ông đã nghĩ thế nào và đã làm gì khi phát hiện điều này?

Đầu tiên, chúng tôi đặt câu hỏi, vì sao sữa mẹ có thành phần mà trẻ không thể tiêu hóa được. Sau đó chúng tôi suy nghĩ có phải các vi khuẩn sẽ ăn các thành phần này. Vì vậy, chúng tôi cô lập các oligosaccharide và chúng tôi đã kiểm tra xem có phải các vi khuẩn sẽ mọc trong môi trường chất này hay không. Kết quả hầu như không mọc, nhưng cuối cùng chúng tôi tìm thấy một dòng Bifidobacterium có men phân hủy chất này. Đây rõ ràng là một loại vi khuẩn có lợi, mà sự hiện diện của chúng có liên quan với các oligosaccharide. Vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới đang cố gắng tìm hiểu về ích lợi của quá trình này như là một phát kiến mới, khi biết được cơ thể mẹ cung cấp thức ăn không chỉ cho trẻ mà còn cho vi khuẩn này. Các vi khuẩn này ở dọc theo ruột của trẻ, để bảo vệ trẻ khỏi các yếu tố gây bệnh.

Vì vậy, các vi khuẩn “tốt” ức chế các vi khuẩn “xấu”?

Đúng vậy. Vi khuẩn này sinh sôi và tạo ra các axit béo chuỗi ngắn và tạo mức pH thấp – mức pH thấp này giúp bảo vệ trẻ khỏi các tác nhân gây bệnh.

Sự bảo vệ này có phải là một chức năng tại chỗ của ruột?

Vâng. Điểm ưu việt của sữa là các phân tử như vậy không chỉ có 2 chức năng - gắn vào trẻ và tạo chất acetate, chúng cũng có chức năng tạo các chất chuyển hóa khác giúp nuôi dưỡng trẻ. Các phân tử oligosaccharide tương tác trực tiếp với chủ thể và có các bằng chứng tốt để ủng hộ việc chúng là yếu tố ra dấu hiệu khởi động hệ miễn dịch của trẻ.

Chúng ra dấu hiệu khởi động hệ miễn dịch như thế nào?

Nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi, nhưng có vẻ như hệ miễn dịch phải quyết định giữa hai bên có lợi và vô hại so với nguy hiểm và gây bệnh. Sự quyết định này được dựa trên các phân tử ra dấu hiệu. Qua việc tạo ra các phân tử có khuynh hướng làm giảm hoạt tính của hệ miễn dịch thì từ đó bạn có thể thấy có vẻ như chúng hướng đến một hệ miễn dịch tốt hơn cho trẻ.
Bạn cũng có thể thấy các phân tử này ra dấu hiệu cho các tế bào của ruột để bắt đầu hình thành các hàng rào tự nhiên giữa các tế bào mà trẻ phải hình thành trong quá trình trưởng thành.

Điều này có nghĩa là trẻ cũng được bảo vệ khỏi các tình trạng dị ứng?

Kết quả hấp dẫn nhất của ngành khoa học này cho đến nay là một trong các vấn đề của hệ thống miễn dịch trẻ nhỏ trong thời hiện đại, khi hệ thống miễn dịch bị kích hoạt cách không phù hợp và kháng lại với các phân tử mà lẽ ra chúng không nên làm như vậy và hình thành phản ứng dị ứng.

Vì vậy, đây có phải là một loại thuốc kì diệu trong sữa mẹ? Chất này có thể được tạo ra và cho vào sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi hay không?

Mục tiêu tối ưu cho sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi là càng giống với sữa mẹ càng tốt. Đây là một phương diện của sữa mẹ liên quan đến tính chất hóa học và thành phần này có thể được tái sản xuất.

Ông mong đợi điều gì ở kết quả lâm sàng khi thêm các đường oligosaccharide trong sữa công thức?

Các nghiên cứu xác định tất cả các lợi ích phải được thực hiện trong các năm sau nữa, nhưng chúng tôi dự đoán rằng hệ miễn dịch sẽ được cải thiện.
Mục tiêu tối ưu của chúng tôi là có nhiều trẻ được bú mẹ, nhưng khi điều này không thể xảy ra thì nghiên cứu này có thể là cách để cải thiện hệ thống miễn dịch.   

Có phải chỉ giai đoạn hai hoặc ba tháng đầu tiên là quan trọng, hay hiệu quả bảo vệ có thể kéo dài hơn nữa, có lẽ là trong cả giai đoạn nuôi dưỡng phối hợp?  

Hiện nay không có bằng chứng lâm sàng về tình huống này hay khác. Chúng tôi dự đoán dựa vào các kết quả thu được cho đến nay, rằng thời gian trẻ có được hiệu quả bảo vệ càng dài thì càng tốt.